Phật dạy không nhân nào không có quả. Nhân tốt thì quả tốt, nhân không tốt thì tương ứng quả không tốt. Ngay từ nhỏ nếu nền tảng đạo đức không được xây dựng từ sự học tập trong môi trường tốt là một thiệt thòi. Do đó cơ hội để hình thành những điều kiện, gầy dựng những nhân tốt bị thiếu hụt. Việc chuyển nghiệp nhất định đòi hỏi phải sáng suốt, tức đòi hỏi trí tuệ. Dùng trí tuệ quán chiếu soi xét kỹ từng phần mới có thể chuyển hóa nghiệp. Không để thói quen tự tung tự tác tạo thành năng lực, phải chủ động sáng suốt làm chủ nó. Đây chính là tu chuyển nghiệp. Nghiệp từ thời nào không biết nhưng nó luôn ấp ủ trong sâu thẳm của tàng thức. Tuy chúng ta đã trưởng thành, có kiến thức nhưng đối với một vài thói quen nhỏ lại không trị được. Nếu trị không được nó sẽ thành hình lớn hơn, năng lực mỗi ngày câu thúc mạnh hơn, chừng đó thì bất trị.
Tu hành là sửa. Một chữ sửa thôi có khi cả đời chúng ta làm không xong. Nếu chuyển được nghiệp tức có thanh tịnh, từ đó đi đến giác ngộ không khó. Vì còn nhiều nghiệp tập chưa chuyển được nên ta chưa giác ngộ. Pháp của Phật tuy có chia ra nhiều môn: Nguyên thủy, Phát triển… nhưng tựu trung đều là phương tiện đưa chúng sanh đi đến giải thoát. Không một pháp môn nào Phật dạy lại không điều trị được bệnh của chúng sanh. Tùy theo căn cơ và mức độ bệnh, cộng với điều kiện xung quanh mà áp dụng phương pháp trị bệnh cho đúng. Cũng như phải biết trong kho hiện giờ thiếu gạo, thiếu nước tương, thừa cà phê, thuốc lá, bánh kẹo. Thiếu thì bổ sung, thừa thì thảy ra.
Kho này Duy thức gọi là Tàng thức tức thức thứ tám, tiếng Phạn gọi là A Lại Da thức. Khi năm giác quan mắt tai mũi lưỡi thân tiếp xúc với trần cảnh hoặc không tiếp xúc với trần cảnh mà vẫn khởi ý thức phân biệt tính toán như thường, cái phân biệt đó gọi là Ý thức tức thức thứ sáu. Khi ý thức không khởi phân biệt, nó không mất hẳn mà chỉ trở về gốc là thức thứ bảy, Duy thức gọi là Ý căn hay truyền tống thức, tiếng Phạn gọi là Mạt-na thức. Công năng của thức này là luôn luôn chấp ngã và truyền tống chủng tử các pháp vào tàng thức. Do thức này huân tập những việc mắt thấy, tai nghe… rồi khởi hiện hành nên chúng ta mới có dòng ký ức để mà tha hồ vọng tưởng. Vì thế thức thứ sáu và thứ bảy hợp tác với nhau thì lợi hại vô cùng.
Thức thứ bảy là thức chấp ngã, thuộc về si. Thức thứ sáu phân biệt tính toán lanh lợi vô cùng. Suy nghĩ việc tốt cũng nó mà xấu cũng nó, cho nên nói “Công vi thủ, tội vi khôi” tức luận về công thì thức này đứng đầu, luận về tội nó cũng hơn hết. Cho nên người tu Phật đối với hai thức này lúc nào cũng phải cẩn thận tu sửa. Dùng thức thứ sáu và thứ bảy quán nhân vô thường để phá si mê ngã chấp, dứt trừ phiền não chướng, quán pháp vô ngã để phá trừ pháp chấp dứt sở tri chướng. Khi ngã chấp và pháp chấp hết rồi thì chứng được Niết-bàn.
Chúng ta can đảm chấp nhận tải hết tất cả cỏ rác không cần thiết hay lúc nào cũng bo bo chấp tôi đúng, tôi hay? Trong một lần hộ niệm cho người Phật tử lớn tuổi ở Cà Mau, thấy con cháu khóc dữ quá, vị Thầy nói:
– Các con phải giữ yên lặng thì bà cụ mới an lòng ra đi. Thương bà chúng ta phải giúp cho bà đi theo con đường sáng của Phật, không rơi vào các chỗ tăm tối, lầm gây tạo nghiệp nhân khổ đau vướng mắc về sau. Bây giờ nếu ai khóc không chịu nín, Thầy sẽ mời ra ngoài cửa.
Trong gia đình mấy vị lớn nghe lời làm theo, còn mấy vị nhỏ lại khóc nhiều hơn nữa. Tại người lớn đã hiểu tầm quan trọng của tâm chánh niệm hỗ trợ cho vong linh người thân, người nhỏ chưa hiểu nên mới như vậy. Nghe nói, các vị lớn từ nhỏ đã được bà cụ hướng dẫn đi chùa, lễ Phật, cúng dường nên ít nhiều thấm nhuần giáo lý. Các cháu nhỏ lớn lên chỉ biết đi học, ít về chùa nên không tiếp nhận được lời dạy của Thầy. Một việc nhỏ như vậy thôi mà làm chưa được thì khi lớn lên những nhu cầu ham muốn khác không thể nào làm chủ được.
Có khi nào chư huynh đệ cảm khái rằng mình tu theo Phật lâu rồi, giáo lý phổ thông đã được học, có thời gian trải nghiệm, hành trì rõ ràng nhưng tại sao không có kết quả gì? Đây là một vấn đề hiện thực đối với tất cả người tu chúng ta. Nếu tu đúng như lời Phật dạy thì chúng ta đâu còn những tập khí thế gian như vậy. Tính ra cũng ba, bốn mươi năm rồi sao mình còn ngồi đây. Bởi vì còn một số điều, một số thói quen, một số năng lực ta chưa chuyển hóa nổi. Nếu chuyển hóa được thì đã giác ngộ giải thoát rồi, phải không? Vì còn vướng mắc chút này chút kia nên chưa chuyển hóa hoàn chỉnh, vì thế chưa giải thoát hoàn toàn.
Tuy nói hành trì công phu để chuyển nghiệp mà trên thực tế chưa chuyển được bao nhiêu. Người không biết tu thường hay buông lung tạo tội từ ba nghiệp thân, khẩu, ý. Ví dụ nơi thân, thấy con muỗi vo ve trước mặt liền lấy tay bắt. Nơi miệng, mỗi lần giận tức liền nói lời dữ. Nơi ý, gặp người không ưng liền nảy ý nghĩ bậy không tốt. Bây giờ biết tu rồi thì sửa thân đừng làm tội lỗi, miệng đừng nói tội lỗi, ý đừng nghĩ tội lỗi. Hiểu được căn bản của sự tu là như vậy thì việc chuyển nghiệp dễ dàng. Do đó trong suy nghĩ, nói năng và hành động, tựu trung phải làm sao chủ động, đầy đủ trí tuệ để làm chủ được nó.

